Hướng Dẫn Chất Lượng Nước Ao: Amoniac, Nitrit, Nitrat, pH, KH và Oxy Hòa Tan
Hóa học thực, ngưỡng thực và điều chỉnh theo mùa giữ koi sống ở 32 °C
Hóa học nước là nội dung thực sự của việc nuôi ao. Cá không quan tâm ao trông ra sao; chúng quan tâm liệu amoniac có dưới 0,25 ppm, oxy hòa tan trên 6 mg/L, và pH không dao động hơn 0,4 đơn vị giữa bình minh và hoàng hôn hay không. Năm thông số quyết định ao của bạn có phát triển hay không là amoniac (NH3), nitrit (NO2), nitrat (NO3), pH và độ cứng cacbonat (KH); thông số thứ sáu, oxy hòa tan, là sát thủ thầm lặng vào mùa hè ở 32 °C khi nước ấm không thể giữ đủ O₂ để hỗ trợ ao thả đầy. Ở khí hậu nhiệt đới ẩm Việt Nam với nhiệt độ nước 24–32 °C quanh năm ở miền Nam và mùa đông miền Bắc xuống 12–15 °C, các giao thức quản lý khác biệt rất nhiều theo vùng và mùa. TCVN 13315:2021 về chất lượng nước cho thủy sản và khuyến nghị của Hiệp hội Cá Cảnh Việt Nam là khung tham chiếu. Hướng dẫn này đề cập đến ngưỡng an toàn và độc chính xác cho mỗi thông số, chu trình nitơ thúc đẩy hệ thống, vai trò của KH ở 80 ppm trở lên trong việc ngăn ngừa sự sụp đổ pH, muối ở 0,1–0,3% để giảm stress, và quản lý từng mùa đưa ao qua khởi động lại mùa xuân, nhu cầu oxy mùa hè, rụng lá mùa thu, và sương lạnh mùa đông miền Bắc với máy sưởi 300 W tối thiểu cho ao dưới 1.900 L.
Chu Trình Nitơ và Vi Khuẩn Giữ Cá Sống
Chu trình nitơ là quá trình sinh học chuyển đổi chất thải cá độc hại thành các hợp chất an toàn hơn và cuối cùng thành nitrat được thực vật và thay nước loại bỏ. Cá sản xuất amoniac (NH3) qua bài tiết mang và chất thải rắn phân hủy, với koi trưởng thành ở 24 °C tạo ra khoảng 30 đến 60 mg amoniac mỗi kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày ở tốc độ cho ăn tiêu chuẩn. Vi khuẩn Nitrosomonas oxy hóa amoniac thành nitrit (NO2) ở bước đầu, tiêu thụ 4,5 mg oxy mỗi mg amoniac được chuyển đổi. Vi khuẩn Nitrobacter và Nitrospira oxy hóa nitrit thành nitrat (NO3) ở bước thứ hai, tiêu thụ 1,1 mg oxy mỗi mg nitrit được chuyển đổi. Nitrat được loại bỏ bằng thay nước (con đường chính trong thực hành nuôi cá) hoặc bằng sự hấp thụ của thực vật trong bog được trồng cây dày. Chu trình đầy đủ mất 4 đến 8 tuần để thiết lập trong ao mới, gọi là chu kỳ hóa. Trong quá trình chu kỳ hóa, amoniac tăng đột biến đầu tiên khi cá được thêm vào, đỉnh điểm 1 đến 4 ppm vào tuần thứ hai đến thứ ba, sau đó giảm khi quần thể Nitrosomonas nhân lên; nitrit sau đó tăng đột biến ở tuần thứ ba đến thứ năm trước khi Nitrobacter bắt kịp. Cho đến khi cả hai quần thể vi khuẩn ổn định, thay nước hàng ngày và cho ăn tối thiểu là bắt buộc. Chu kỳ không có cá sử dụng amoniac tinh khiết ở 2 đến 4 ppm tránh được việc phơi nhiễm cá với mức độ độc hại trong giai đoạn thiết lập và là phương pháp được khuyến nghị cho ao mới.
Amoniac, Nitrit, Nitrat: Ngưỡng An Toàn và Độc Chính Xác
Amoniac (NH3): dưới 0,25 ppm an toàn dài hạn, 0,25 đến 0,5 ppm gây kích ứng mang mãn tính và tăng trưởng chậm, 0,5 đến 1 ppm gây stress nhìn thấy được (hớp khí, vây kẹp), 1 đến 2 ppm độc cấp tính và tạo bỏng mang, trên 2 ppm gây tử vong trong 24 đến 72 giờ. Độc tính amoniac tăng theo pH và nhiệt độ: ở pH 8,5 và 27 °C amoniac khoảng 5× độc hơn so với pH 7,5 và 21 °C vì phần amoniac tự do (NH3) so với phần ion hóa (NH4+) chuyển mạnh sang dạng NH3 độc ở pH và nhiệt độ cao hơn — đặc biệt liên quan đến khí hậu nhiệt đới Việt Nam. Nitrit (NO2): dưới 0,25 ppm an toàn, 0,25 đến 0,5 ppm gây bệnh máu nâu bắt đầu, trên 0,5 ppm oxy hóa dần huyết sắc tố thành methemoglobin cho đến khi cá ngạt thở từ thiếu oxy bên trong dù chỉ số oxy hòa tan bình thường. Clorua cạnh tranh chặn hấp thu nitrit ở mang, vì vậy thêm 2,7 đến 4,5 kg muối ao mỗi 1.000 L (0,07 đến 0,12%) là phản ứng khẩn cấp với đỉnh nitrit trong khi bộ lọc bắt kịp. Nitrat (NO3): dưới 40 ppm an toàn dài hạn, 40 đến 80 ppm làm chậm tăng trưởng koi và làm yếu đáp ứng miễn dịch, trên 80 ppm khuyến khích nước xanh và bùng phát tảo dây, trên 200 ppm gây stress mãn tính và thất bại sinh sản. Nitrat được loại bỏ bằng thay nước ở tỷ lệ (ppm hiện tại) × (% nước thay); thay 20% nước giảm mức nitrat 100 ppm xuống 80 ppm.
pH, KH và Hệ Thống Đệm Ngăn Sụp Đổ
pH đo nồng độ ion hydro trên thang logarit 0 đến 14. Mục tiêu ao: pH 6,8 đến 7,8 lý tưởng cho koi và cá vàng, pH 7,4 đến 8,2 có thể chấp nhận được cho ao ổn định, dưới 6,4 hoặc trên 9,2 gây stress cấp tính và tổn thương mang. Tham số gây chết không phải là pH tuyệt đối mà là dao động pH. Ao ổn định ở pH 8,2 ổn; ao dao động giữa 7,4 lúc bình minh và 8,8 lúc hoàng hôn gây stress cá hàng ngày vì dao động vượt 0,4 đơn vị. Độ cứng cacbonat (KH hoặc độ kiềm) là đệm bicacbonat ngăn dao động pH. Mục tiêu KH: tối thiểu 80 ppm CaCO3 (4,5 độ dKH) để chống sụp đổ pH, lý tưởng 120 đến 180 ppm (7 đến 10 dKH), trên 200 ppm cho ổn định cực đoan nhưng làm chậm pH tăng trong quá trình quang hợp. KH dưới 50 ppm dẫn đến sụp đổ pH qua đêm vì CO2 do hô hấp cá và hoạt động vi khuẩn sản xuất không có bicacbonat để đệm; ao có thể giảm từ pH 7,6 xuống pH 6,0 trong một đêm ấm, giết cá. Nâng KH bằng baking soda (natri bicacbonat) ở 1 muỗng cà phê mỗi 38 L mỗi ngày cho đến khi đạt mục tiêu, hoặc bằng san hô nghiền hoặc aragonite trong bộ lọc cho phát hành chậm liên tục. Độ cứng tổng (GH) đo canxi và magie ít quan trọng hơn nhưng phải ở 60 đến 180 ppm; nước rất mềm dưới 40 ppm GH gây thiếu canxi trong vảy koi và làm chậm tăng trưởng. Ở Việt Nam, nước máy đô thị thường 60–120 ppm KH, trong khi nước mưa thu hoạch rất mềm và cần bổ sung.
Oxy Hòa Tan, Nhiệt Độ và Khủng Hoảng Thiếu Oxy Mùa Hè
Oxy hòa tan (DO) là sát thủ thầm lặng của ao thả đầy vào mùa hè. Độ bão hòa DO giảm khi nước ấm lên: ở 5 °C độ bão hòa 12,8 mg/L, ở 15 °C 10,1 mg/L, ở 25 °C 8,3 mg/L, ở 30 °C 7,6 mg/L, ở 35 °C 6,9 mg/L. Cá đòi hỏi hướng ngược lại: koi tiêu thụ 2 đến 3 mg/kg/giờ ở 10 °C và 6 đến 10 mg/kg/giờ ở 30 °C. Kết quả là ao thả đầy nhiều ở 30 °C với DO chạy 4 đến 5 mg/L lúc bình minh cách một độ ấm lên hoặc một ngày mây từ thảm họa cá. Mục tiêu DO tối thiểu: 6 mg/L để tồn tại, 7 mg/L để tăng trưởng khỏe mạnh, 8 mg/L hoặc cao hơn cho koi chất lượng triển lãm ở bất kỳ nhiệt độ nào. Nguồn sục khí theo công suất: máy bơm không khí 1 cfm với ba viên đá khí 10 cm thêm khoảng 1 mg/L mỗi giờ vào ao 3.800 L; máy bơm 2 cfm gấp đôi. Thác nước cung cấp 5.700 L/giờ qua độ rơi 30 cm thêm 2 đến 3 mg/L mỗi giờ qua khuấy động bề mặt, nhiều hơn nhiều so với máy bơm khí trên mỗi watt điện. Giao thức mùa hè cho thả nặng ở Việt Nam: chạy sục khí 24 giờ từ tháng 4 đến tháng 10 ở miền Nam (mùa khô và đầu mùa mưa với DO thấp nhất), gấp đôi sục khí trong sóng nhiệt trên 34 °C phổ biến ở TP.HCM và Hà Nội, không bao giờ cho cá ăn vào chiều nóng khi DO ở mức tối thiểu hàng ngày.
Thay Nước: Công Cụ Hiệu Quả Đơn Lẻ Nhất
Thay nước là can thiệp chất lượng nước mạnh nhất có sẵn cho người nuôi ao và nhiệm vụ bảo trì bị đánh giá thấp nhất. Thay 10 đến 20% nước hàng tuần thực hiện: pha loãng nitrat và hữu cơ vi lượng mà bộ lọc không thể loại bỏ, bổ sung khoáng chất vi lượng (đặc biệt là canxi, magie và kali) bị cạn kiệt do tăng trưởng cá, ổn định pH và KH bằng cách thêm nước máy đệm tươi (ở hầu hết Việt Nam Sawaco và nhà cung cấp nước duy trì pH 6,5–8,5 theo QCVN 01-1:2018/BYT), loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan thúc đẩy tảo dây, và đặt lại môi trường pheromonal báo hiệu cá tăng trưởng và sinh sản. Tần suất khuyến nghị: 10 đến 15% hàng tuần cho ao koi với thả tiêu chuẩn, 20 đến 25% hàng tuần cho ao thả đầy hoặc triển lãm, 5 đến 10% hàng tháng vào mùa đông khi cá ngủ. Luôn dechlorinate nước máy trước khi thêm; dechlorinator dựa trên natri thiosulfat tiêu chuẩn liều ở 30 mL trên 1.000 L cho clo và 60 mL cho chloramine, nhưng kiểm tra nhãn sản phẩm cụ thể. Nhiều đô thị Việt Nam chuyển từ clo sang chloramine từ 2010 đến 2020; chloramine ổn định hơn nhưng đòi hỏi dechlorinator được đánh giá chloramine (không phải tất cả sản phẩm đều hoạt động). Tốc độ đổ đầy nên khớp với tốc độ thoát nước để giữ sốc nhiệt độ tối thiểu; vòi máy điển hình Việt Nam giao 20 đến 35 L/phút vì vậy thay 750 L mất 21 đến 38 phút.
Muối ở 0,1 đến 0,3%: Khi Nào và Cách Sử Dụng Muối Ao
Muối điều trị là điều trị phổ rộng an toàn nhất và hiệu quả nhất trong nuôi ao. Muối ao tinh khiết (natri clorua không có iốt, không có chất chống vón cục, không có chất ức chế rỉ — thường có sẵn dưới dạng muối ăn không iốt ở Việt Nam) đạt ba mục tiêu: (1) giảm stress cá bằng cách giảm chênh lệch áp suất thẩm thấu ở mang, (2) chặn hấp thu nitrit cạnh tranh ở 0,1% hoặc cao hơn, (3) điều trị hầu hết các ký sinh trùng bên ngoài ở 0,3% trong 7 đến 14 ngày. Toán nồng độ: 0,1% bằng 1 gam mỗi lít hoặc 1 kg mỗi 1.000 L; 0,3% bằng 3 kg mỗi 1.000 L. Luôn thêm muối từ từ trong 24 đến 48 giờ bằng cách hòa tan trong xô nước ao và thêm vào ba hoặc bốn liều bằng nhau. Kiểm tra bằng khúc xạ kế hoặc máy đo độ mặn (300.000–700.000 VNĐ); que thử muối không đáng tin cậy. Giới hạn quan trọng: hầu hết các loại thực vật thủy sinh chỉ chịu được 0,1% hoặc thấp hơn, vì vậy liều điều trị ở 0,3% phải được áp dụng trong bể bệnh viện hoặc trong ao không có thực vật. Thực vật nhạy cảm với muối bao gồm hoa súng (Nymphaea), sen (Nelumbo) và hầu hết các thực vật mép; thực vật chịu muối giới hạn ở một số loài cói.
Quản Lý Chất Lượng Nước Theo Mùa Cả Năm
Mùa xuân miền Bắc (nhiệt độ nước 18–24 °C) hoặc đầu mùa khô miền Nam (24–28 °C): mùa nguy hiểm nhất. Trao đổi chất cá tái hoạt động trước khi vi khuẩn lọc được tái phân bố đầy đủ, sản xuất đỉnh amoniac mùa xuân. Kiểm tra amoniac và nitrit mỗi 48 giờ từ rã đông đầu tiên đến chỉ số ổn định trên 18 °C. Bắt đầu cho ăn chỉ khi nhiệt độ giữ trên 14 °C trong 5 ngày liên tiếp, và bắt đầu ở 25% tốc độ cho ăn mùa hè. Quan sát bùng phát Aeromonas và Saprolegnia trong cửa sổ 13 đến 17 °C; vết loét, mảng nấm bông trắng và sọc đỏ trên vây là dấu hiệu chẩn đoán. Mùa hè ở Việt Nam (nhiệt độ nước 28–34 °C, đỉnh điểm có thể chạm 38 °C ở Đồng bằng sông Cửu Long): mùa tải cao. Chạy sục khí 24 giờ, duy trì ổn định pH với kiểm tra KH hàng tuần, thực hiện thay nước 15% hàng tuần, quan sát ký sinh trùng (Trichodina, Costia, Ich) ở mật độ thả cao. Giảm cho ăn trên 32 °C vì nhu cầu trao đổi chất vượt cung cấp DO. Mùa thu (chỉ có ở miền Bắc, nhiệt độ nước 18–25 °C): mùa dọn dẹp. Loại bỏ lá hàng ngày khi chúng rơi; một lá phượng hoặc bằng lăng phân hủy thành 0,5 g carbon hữu cơ hòa tan nuôi tảo dây trong nhiều tuần. Giảm cho ăn dần dần, chuyển sang thực phẩm dựa trên mầm lúa mì dưới 16 °C. Mùa đông (chỉ đáng kể ở miền Bắc, nhiệt độ nước 12–18 °C, vùng núi cao như Sa Pa, Mộc Châu có thể xuống 5–10 °C): mùa ngủ. Lắp máy sưởi (de-icer) ở tối thiểu 300 W cho ao dưới 1.900 L, 500 đến 750 W cho ao 1.900 đến 5.700 L, 1.000 W cho ao trên 7.600 L; de-icer giữ lỗ trao đổi khí mở mà không làm ấm ao. Đừng bao giờ đập băng; sóng xung kích có thể vỡ bong bóng cá. Chạy bơm ở lưu lượng giảm (50% mùa hè) hoặc chuyển xả xuống dưới bề mặt.
Kiểm Soát Tảo: Nước Xanh, Tảo Dây và Tảo Mền
Tảo không phải là bệnh mà là triệu chứng của thặng dư dinh dưỡng và dư thừa ánh sáng. Ba loại phổ biến và can thiệp tương ứng. Tảo lơ lửng đơn bào (nước xanh): do nitrat và phosphat hòa tan trong nước trong tiếp xúc với mặt trời; các tế bào nhân lên nhanh hơn động vật phù du có thể gặm. Giải pháp: máy tiệt trùng UV ở 10 watt mỗi 3.800 L tiêu chuẩn, 15 watt ở ánh sáng mặt trời trực tiếp dữ dội (phổ biến ở Việt Nam xích đạo). UV phá hủy DNA tảo trong nước đi qua nhưng không loại bỏ dinh dưỡng hòa tan, vì vậy nước xanh trở lại nếu UV bị loại bỏ. Tảo dây (Cladophora và các loài xanh dạng sợi liên quan): mọc trên bề mặt với ánh sáng và dinh dưỡng đầy đủ; không bị giết bởi UV vì các sợi dạng sợi ẩn khỏi đèn. Giải pháp: loại bỏ vật lý (kéo bằng tay hoặc hút) cộng với giảm nitrat hòa tan dưới 20 ppm qua thay nước, cộng với che bóng bề mặt ao đến 30 đến 50% với hoa súng hoặc thực vật nổi. Chiết xuất rơm lúa mạch (1 gam mỗi 38 L hàng tháng) ức chế tảo dây qua các hợp chất allelopathic được giải phóng trong quá trình phân hủy chậm. Tảo mền (Spirogyra và liên quan, thường nhầm lẫn với tảo dây): tấm và thảm sợi nhờn; cùng điều trị như tảo dây cộng với cân nhắc bộ lọc bog. Tránh thuốc diệt tảo đồng trong bất kỳ ao koi nào; biên độ điều trị hẹp và đồng tập trung trong mang và gan.
FAQ
Kết quả kiểm tra amoniac của tôi đọc 0,5 ppm. Tôi phải làm gì bây giờ?
Trình tự hành động ngay lập tức: (1) Thay 25% nước với nước dechlorinated có nhiệt độ tương tự trong 4 giờ tới; điều này pha loãng amoniac 25% ngay lập tức. (2) Ngừng cho ăn hoàn toàn trong 48 giờ tới; ít thức ăn hơn nghĩa là ít sản xuất amoniac hơn. (3) Tăng sục khí lên tối đa bằng cách thêm máy bơm khí dự phòng hoặc đặt lại tấm bắn nước của thác nước; độc tính amoniac tăng với DO thấp. (4) Thêm liều đơn chất kết hợp amoniac dựa trên hydroxymethanesulfonate ở liều nhãn; những chất này chuyển NH3 thành NH4+ không độc trong 24 đến 48 giờ trong khi bộ lọc bắt kịp. (5) Kiểm tra lại sau 6 giờ và 24 giờ; nếu amoniac vẫn trên 0,5 ppm, lặp lại thay nước. (6) Điều tra nguyên nhân gốc: thả quá nhiều, cá chết ẩn trong cây, làm sạch bộ lọc gần đây giết vi khuẩn, hoặc chloramine trong nước máy chưa được xử lý từ topup gần đây.
Tôi nên kiểm tra nước ao bao lâu một lần và những kiểm tra nào là cần thiết?
Ao mới trong chu kỳ hóa (6 đến 10 tuần đầu tiên): hàng ngày amoniac, nitrit, pH và KH; nitrat hàng tuần. Ao ổn định mùa hè: hàng tuần amoniac, nitrit, pH, KH; nitrat mỗi 2 tuần; DO mỗi 2 tuần hoặc bất cứ lúc nào cá xuất hiện stress. Ao ổn định mùa đông: hàng tháng pH và KH; amoniac chỉ nếu độ trong của nước thay đổi hoặc cá xuất hiện đau khổ. Sau khi thêm cá mới: hàng ngày amoniac và nitrit trong 14 ngày. Sau bất kỳ điều trị hóa học nào: hàng ngày trong 7 ngày. Sử dụng bộ kiểm tra thuốc nhỏ chất lượng; que thử thuận tiện nhưng mất 30 đến 50% độ chính xác sau khi chai mở 2 tháng. Hiệu chuẩn máy đo pH hàng tháng với dung dịch đệm 7,0 và 10,0; máy đo điện tử chưa hiệu chuẩn trôi 0,3 đến 0,6 đơn vị pH trong 6 tháng.
Cá của tôi đang hớp khí ở bề mặt vào sáng sớm. Điều gì đang xảy ra?
Hớp khí ở bề mặt vào bình minh là dấu hiệu sách giáo khoa của cạn kiệt oxy hòa tan qua đêm. Trình tự nguyên nhân: cây ao và tảo tiêu thụ oxy vào ban đêm qua hô hấp sau khi sản xuất nó ban ngày qua quang hợp, trong khi cá tiếp tục đòi oxy 24 giờ mỗi ngày. Nước nóng mùa hè ở 30 °C chỉ giữ 7,6 mg/L ở độ bão hòa, và ao thả đầy có thể giảm xuống 3 đến 4 mg/L vào 6 sáng. Phản ứng tức thì: (1) Thêm sục khí ngay lập tức bằng cách bắn nước bằng xô, khởi động lại thác nước trên bơm dự phòng, hoặc triển khai bơm khí pin. (2) Thay 25% nước với nước mát ngọt mới. (3) Ngừng cho ăn 48 giờ; thực phẩm chưa ăn phân hủy tiêu thụ nhiều oxy hơn. (4) Kiểm tra tảo chết; bùng phát tảo gần đây bị đổ có thể tiêu thụ oxy nhanh chóng trong quá trình phân hủy. (5) Kiểm tra amoniac. Sửa chữa dài hạn: tăng sục khí vĩnh viễn lên 2 cfm mỗi 3.800 L.
Muối có an toàn trong ao có cây hay không, hay nó giết cây?
Hầu hết các loại thực vật thủy sinh chỉ chịu được 0,1% muối (1 ppt hoặc 1.000 ppm) hoặc thấp hơn; nồng độ điều trị 0,3% được sử dụng để điều trị ký sinh trùng giết hoa súng, sen, hầu hết các mép, và rêu thủy sinh trong vài ngày đến tuần. Thực vật thủy sinh chịu muối là danh sách ngắn: một số loài cói (Juncus), một số Carex, lục bình (Eichhornia, bản địa và xâm lấn ở nhiều ao và sông Việt Nam), và bèo cái (Pistia). Đối với người nuôi ao muốn cả trồng cây nhiều và truy cập muối điều trị, câu trả lời là bể bệnh viện riêng: bồn chứa 200 đến 750 L với bộ lọc và sục khí riêng, nơi cá có thể được di chuyển để tắm muối 7 đến 14 ngày ở 0,3% mà không ảnh hưởng đến cây ao chính. Muối vĩnh viễn 0,1% là mức cao nhất có thể chịu đựng cho thực vật nhạy cảm, cung cấp bảo vệ chống đỉnh nitrit và giảm stress nhẹ mà không giết cây.
pH ao của tôi rớt qua đêm từ 7,6 xuống 6,2. Điều gì đã xảy ra và làm thế nào để khắc phục?
Sự đổ vỡ pH qua đêm là dấu hiệu sách giáo khoa của KH thấp (độ cứng cacbonat). Khi KH giảm xuống dưới 50 ppm, CO2 do hô hấp cá và hoạt động vi khuẩn qua đêm sản xuất không có bicacbonat để đệm, vì vậy pH giảm dốc khi CO2 hydrat thành axit cacbonic. Phản ứng tức thì: (1) Kiểm tra KH; nếu dưới 50 ppm, đây là nguyên nhân được xác nhận. (2) Nâng KH bằng baking soda (natri bicacbonat) ở 1 muỗng cà phê mỗi 38 L nước ao, hòa tan trước trong xô sau đó thêm vào bề mặt ao. KH mục tiêu 100 đến 120 ppm. Bổ sung an toàn tối đa hàng ngày là 1 muỗng cà phê mỗi 38 L; trải rộng các sửa chữa lớn hơn qua nhiều ngày. (3) Kiểm tra lại pH 4 giờ sau khi điều chỉnh KH; pH sẽ tăng trở lại trong phạm vi 7 khi khả năng đệm trở lại. (4) Xác định nguyên nhân giảm KH: pha loãng mưa lớn (mưa nhiệt đới Việt Nam có thể kéo dài nhiều ngày), rêu than bùn hoặc lá phổ axit hóa nước, tải hữu cơ từ thả quá nhiều. Thêm san hô nghiền hoặc aragonite (450 g đến 900 g mỗi 380 L) vào bộ lọc làm đệm phát hành chậm liên tục. Dài hạn, KH dưới 80 ppm đòi hỏi liều baking soda hàng tháng cho đến khi nguồn đệm được sửa chữa.